Bán trả góp, cho thuê
THUỐC ĐÔNG Y BỔ PHỔI TỐT NHẤT HIỆN NAY
( Ảnh minh họa)

THUỐC ĐÔNG Y BỔ PHỔI TỐT NHẤT HIỆN NAY

Cập nhậtThứ tư, 08/05/2013 - 19:02 Lần xem8571 lượt Giá tham khảoLiên hệ
Nhà thuốc
Hân hạnh đồng hàng cùng dược sĩ Thuốc mới !
Mô tả khác
Hot hot: Ưu đãi Đặc Biệt dịp Tết Quý Tỵ 2013 cho thuê bao Mobifone !
Cổng thông tin giải trí tổng hợp trên Mobile (Mobile wap portal)
Chơi game hoàn toàn miễn phí trên di động


Dược thảo hỗ trợ điều trị lao phổi

Nguyên Nhân Bệnh Lý

YHHĐ cho rằng do vi khuẩn Mycobacterium và được gọi là vi khuẩn Kock theo tên của người đã tìm ra nó.

Đông Y cho rằng do:

+ Cơ thể suy yếu, tinh khí huyết bất túc, nguyên khí suy giảm không đủ sức để chống đỡ với tà khí bên ngoài xâm nhập như sách 'Nội Kinh" đã viết: "Tà khí xâm nhập cơ thể gây bệnh được là vì chính khí hư suy”.

+ Trùng lao (trái trùng) xâm nhập cơ thể gây bệnh. Do cảm nhiễm trùng lao lâu ngày tinh huyết hư tổn mà sinh lao trái.

Nhiều sách cổ đã sớm nhận thức về tính chất lây lan và nguy hiểm của chứng lao trái như sách ‘Trửu Hậu Phương' viết: “Bêïnh lâu ngày gây suy mòn dần, truyền cho người gần gũi rồi chết cả nhà ". Sách ‘Ngoại Đài Bí Yếu' viết: 'Bất kể người lớn trẻ nhỏ đều có thể mắc bệnh ". Sách ‘Tế Sinh Phương ‘ ghi: “Bệnh lao trái là tai hoạ lớn của nhân loại ".
Triệu Chứng

Các nhà chuyên môn về Lao nêu lên các triệu chứng báo hiệu nhiễm lao như sau:

. Ho dai dẳng trên 3 tuần lễ.

. Cơ thể suy yếu và cảm thấy đau ran vùng ngực.

. Sụt cân.

. Ăn mất ngon miệng.

. Ho ra máu.

. Hơi thở ngắn, thở gấp, lao động mau mệt.

. Sốt và ra mồ hôi về đêm.
Chẩn Đoán

Cần làm một số xét nghiệm:

. Tìm trùng trực tiếp trong đờm.

. Xét nghiệm máu.

. Chụp phim (X quang phổi².
Biện Chứng Luận Trị

Đặc điểm lâm sàng của triệu chứng bệnh là: Ho, ho ra máu, đau ngực, sốt về chiều (triều nhiệt), nóng trong xương (Cốt chưng), mồ hôi trộm (đạo hãn), gầy sút cân.

Chứng bệnh phần lớn thuộc âm hư, có thể biện chứng luận trị như sau:

Âm Hư Phế Tổn: Người da khô cứng, lòng bàn chân tay nóng, ho khan, ít đờm hoặc trong đờm có máu, sốt chiều hoặc về đêm, ra mồ hôi trộm, má đỏ, miệng khô, họng khô, lưỡi thon đỏ, mạch Tế Sác.

Điều trị: Dưỡng âm, nhuận Phế chỉ khái, hoá đờm. Dùng bài Bách Hợp Cố Kim Thang gia giảm.

(Trong bài, Sinh địa, Sa sâm, Mạch môn, Bách hợp tư âm, nhuận Phế; Bách bộ, Cát cánh, Bối mẫu, Cam thảo, chỉ khái, hoá đờm).

Trường hợp ho ra máu thêm Thiến thảo căn, Trắc bá diệp (sao). Mồ hôi nhiều thêm Lá dâu, Ngũ vị tử, Mẫu lệ. Âm hư hoả vượng thêm Địa cốt bì, Tri mẫu, Thạch cao để tư âm giáng hoả.

Tỳ Phế Khí Hư: Mệt mỏi, ít thích hoạt động, ăn kém, hơi thở ngắn, ho có đờm, ngực tức, giọng nói nhỏ, sắc mặt xanh tái, sợ lạnh, rêu lưỡi dày nhớt, mạch Tế Nhược.

Điều trị: Kiện Tỳ, ích Phế, chỉ khái, hoá đờm. Dùng bài Lục Quân Tử Thang gia giảm.

(Trong bài, Nhân sâm, Bạch truật, Bạch linh, Cam thảo bổ Tỳ Phế khí; Trần bì, Khương chế Bán hạ, thêm Xuyên bối mẫu (tán bột uống) chỉ khái, hoá đờm).

Ra mồ hôi trộm thêm Lá dâu, Hoàng kỳ để bổ khí, liễm hãn. Ho ra máu thêm Bách bộ, Trắc bá diệp (sao cháy) để chỉ khái huyết.

Khí Âm Lưỡng Hư: Mệt mỏi, ít hoạt động, ho ít, đờm có tia máu, má đỏ, da nóng, ra mồ hôi ít, ăn kém, môi khô, lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng, mạch nhỏ Sác.

Điều trị: Ích khí, dưỡng âm, chỉ khái, hoá đờm. Dùng bài Sinh Mạch Tán gia vị.

(Trong bài, Nhân sâm thêm Bạch truật bổ khí; Mạch môn, Ngũ vị thêm Hoàng tinh, Bách hợp để dưỡng âm; Bách hợp, Mạch môn thêm Bách bộ, Qua lâu nhân, Bối mẫu để nhuận Phế, chỉ khái, hoá đờm).

Ho có máu, thêm Sâm tam thất, Trắc bá diệp sao cháy để cầm máu.
Một Số Bài Thuốc Kinh Nghiệm

+ Ích Tỳ Dưỡng Phế Thang (Vân Nam Trung Y Tạp Chí (4) 1981): Hoàng kỳ 18g, Nhân sâm 4g, (hoặc Thái tử sâm 18g), Bạch truật, Phục linh đều 18g, Trần bì 9g, Mộc hương 3g, Ô mai 6g, Đại táo 10 trái. Sắc uống.

TD: Ích khí kiện Tỳ, bồi thổ sinh kim. Trị lao phổi (Khí hư Tỳ nhược).

Lâm sàng ứng dụng đạt kết quả khả quan.

+ Nhị Bách Chỉ Huyết Thang (Thực Dụng Trung Y Nội Khoa Tạp Chí (1) 1990): Bách bộ 15g, Bách hợp, Bạch cập đều 30g, Hoàng kỳ, Chi tử đều 9g, Bắc sa sâm, Mạch môn, Ngọc trúc, Sơn dược đều 15g, Sinh địa, Huyền sâm đều 12g, Đan sâm 15g, Đơn bì 12g, Đại hoàng (tẩm rượu) 9g, Hoa nhuỵ thạch 15g, Tam thất 3g (tán bột, hoà nước thuốc uống).

TD: Dưỡng âm, thanh nhiệt, lương huyết chỉ huyết. Trị lao phổi ho ra máu.

Đã tri 86 ca (ho ra máu vừa và nặng 11 ca), khỏi hoàn toàn 100%. Uống ít nhất 3 thang, nhiều nhất 9 thang là cầm máu, sau đó uống tiếp 30 thang để củng cố kết quả.

Châm Cứu Trị Lao Phổi

+ Phế Táo Âm Hư: Nhuận Phế, dưỡng âm, ích khí, kháng lao. Dùng huyệt của kinh thủ và túc Thái âm, túc Dương minh và bối du huyệt làm chính.

Thái uyên, Phế du, Cao hoàng du, Tam âm giao, Thái khê, Túc tam lý.

(Thái uyên là huyệt Nguyên, huyệt Du của kinh Phế, phối hợp với Phế du để bổ Phế khí, tư dưỡng Phế âm để bổ Thổ sinh Kim; Cao hoang du ở vùng Phế, là huyệt chủ yếu trị lao, có tác dụng lý Phế, sát trùng, bồi trung, cố bản, phù chính, khứ tà; Tam âm giao là huyệt hội của 3 kinh Tỳ, Thận và Can, có tác dụng kiện Tỳ, thư Can, ích Thận, có khả năng ích mẫu, dưỡng tử, ức mộc hỗ trợ cho kim, hợp với Thái uyên để tư thuỷ, nhuận Phế).

+ Âm Hư Hoả Vượng: Tư âm, giáng hoả, nhuận Phế, ích Thận. Chọn huyệt ở kinh thủ túc Thái âm, thủ túc Thiếu âm và Bối du huyệt làm chính.

Xích trạch, Phế du, Tam âm giao, Cao hoang du, Thái khê, Thận du, Âm khích, Dũng tuyền.

(Xích trạch là huyệt Hợp của kinh Phế, hợp với Phế du để tư âm, giáng hoả, thanh Phế; Cao hoang du ở vùng Phế, là huyệt chủ yếu trị lao, có tác dụng lý Phế, sát trùng, bồi trung, cố bản, phù chính, khứ tà; Âm khích là huyệt khích của kinh Tâm để thanh tiết hư nhiệt bốc lên bên trên để trị tiêu (ngọn), hợp với Tam âm giao, Thái khê, Dũng tuyền, Thận du để tư âm, giáng hoả).

+ Khí Âm Suy Tổn: Ích khí, dưỡng âm, Phế Tỳ đồng trị. Dùng huyệt ở kinh thủ túc Thái âm, túc Dương minh và Nhâm mạch làm chính.

Thái uyên, Túc tam lý, Trung phủ, Khí hải, Tỳ du, Trung quản, Cao hoang du.

(Trung phủ là huyệt Mộ của đường kinh Phế, dùng để trị bệnh ở Phế, hợp với Thía uyên là huyệt Nguyên của kinh Phế, theo cách phối hợp Nguyên – Mộ để tăng Thổ sinh Kim, bổ ích Phế khí, tuyên Phế, hoá đờm; Cao hoang du bổ hư, kháng lao; Túc tam lý là huyệt để làm mạnh cơ thể, hợp với Tỳ du, có tác dụng bổ trung khí là nguồn vận hoá, giúp tăng chức năng kiện vận; Khí hải, Trung quản bổ ích chính khí, phù chính, khứ tà).

+ Âm Dương Đều Hư: Tư âm, bổ dương, bồi nguyên, cố bản. Chọn huyệt của đường kinh túc Dương minh, túc Thái âm, Nhâm mạch và Bối du huyệt.

Đại chuỳ, Phế du, Cao hoang du, Quan nguyên, Túc tam lý, Mệnh môn.

(Đại chuỳ là nơi hội của các đường kinh dương, có tác dụng ích khí, trợ dương; Quan nguyên, Mệnh môn phối hợp huyệt trước và sau (cơ thể) để khí hoá, sinh tinh; Phế du bổ Phế khí; Túc tam lý bổ trung ích khí; Cao hoang du phù chính, kháng lao).

Hiện nay đã có thuốc đặc hiệu chống lao nên chứng lao không còn là tứ chứng nan y như trước, nhưng dùng thuốc chống lao có kết hợp trị theo biện chứng luận trị, chứng lao phổi vẫn có lợi giúp sức khoẻ người bệnh chóng hồi phục và giảm được biến chứng do thuốc chống lao gây ra.

Ngoài ra trị bệnh lao rất cần chế độ sinh hoạt điều độ, tinh thần thoải mái và chế độ ăn uống bổ dưỡng tốt, kiêng rượu, thuốc lá và những thức ăn cay nóng có hại đến tân dịch của cơ thể

BÀI THUỐC:
Chế phẩm Bổ Phổi  được bào chế từ những thảo dược quý có nguồn gốc từ thiên nhiên, mang đến hiệu quả điều trị cao mà không gây ra phản ứng phụ có hại. Trong đó Xuyên Bối Mẫu, Cát Cánh, Tỳ Bà Diệp là vị thuốc chủ đạo dưỡng âm, thanh phế, hóa đờm, thuận khí chỉ khái (trừ ho) được hỗ trợ bởi các vị thuốc: Khoản Đông Hoa, Kha Tử, Thiên Môn, Hạnh Nhân, Bạch Quả  có tác dụng nhuận phế (phổi), hiệu quả trong điều trị hen suyễn, trị viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, lao phổi. Bạc Hà giảm đau họng, nhức đầu. Kim Ngân Hoa có tác dụng kháng phế khuẩn, trực khuẩn ho gà, trực khuẩn lao, chống lao. Cam Thảo có tác dụng điều hoà dược tính các vị thuốc trên. Bổ Phổi  có tác dụng bảo vệ, cải thiện đồng thời phục hồi chức năng của phổi và hệ hô hấp.


THÀNH PHẦN:

Mỗi viên nang chứa 500mg dược liệu
Kim Ngân Hoa              : 78mg                               
Thiên Môn                    : 41mg
Xuyên Bối Mẫu              : 55mg
Khoản Đông Hoa           : 38mg
Tỳ Bà Diệp                   : 75mg
Bạch Quả                     : 40mg
Cát Cánh                      : 75mg
Cát Căn                        : 50mg
Cam Thảo                     : 50mg
Bạc Hà                          : 1%
Hạnh Nhân                    : 25mg
Kha Tử                         : 25mg


Trình bày: Hộp 2 vỉ x 10 viên nang.


HSD: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.


SĐK: 3024/2011/ YT – CNTC.


Công năng của các vị thuốc được kết hợp trong sản phẩm Bổ phổi  (mang tính chất tham khảo):


Kim Ngân Hoa: là một cây thuốc được dùng trong phòng chữa (UT,.)của Đông y. Hoa Kim Ngân đang ngày càng được phát hiện thêm nhiều tác dụng quý, nên ngày càng được dùng nhiều hơn để đương nhiên trở thành cây thuốc quý của cả Đông, Tây Y. Cây có tên là Kim Ngân vì hoa có hai màu: Màu trắng vào buổi sáng và chuyển sang vàng buổi chiều. Kim Ngân Hoa thường dùng để thanh nhiệt, giải độc.Ngoài ra Kim Ngân Hoa còn có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm rất hiệu quả.


Xuyên Bối Mẫu: dân gian còn lưu truyền huyền thoại về Xuyên bối mẫu. Xưa kia, cũng ở mảnh đất Tứ Xuyên này, có một thai phụ do mắc bệnh lạ (người phiền khát, ngực nóng, ho không dứt) sinh hạ năm lần bảy lượt thai nhi đều chết yểu, bị gia đình chồng ruồng bỏ. May thay, có một thầy lang thương tình mách cho một dược thảo quý, sau 3 tháng dùng thuốc thì vừa lúc có tin mừng, bà đã hoài thai. Đủ tháng đủ ngày, bà sinh hạ được bé trai khỏe mạnh, hồng hào. Trong niềm vui mừng khôn tả, bà xin được đặt tên cho vị thuốc này là Bối Mẫu với ý nghĩa “Quý như bảo bối của Người mẹ”. Cái tên Bối Mẫu cũng được sử dụng phổ biến từ đó.Do được trồng ở Tứ Xuyên nên vị này được gọi là Xuyên bối mẫu.


Khoản Đông Hoa: khoản có nghĩa là đến, đông là mùa đông, vì đến mùa đông, cây nở hoa do đó có tên này. Khoản đông hoa còn có tên Latinh là Filius ante patrem, có nghĩa là con đứng trước cha, vì hoa khoản đông hoa màu vàng, xuất hiện vào tháng hai khá lâu trước khi lá cây xuất hiện. Tên khoa học Tussilago do hai từ tussis có nghĩa là ho, và agere có nghĩa là đuổi vì vị thuốc có tác dụng chữa ho. Tên cây ở Pháp còn gọi là chassetoux cũng có nghĩa là đuổi ho. Khoản Đông Hoa được ứng dụng lâm sàng trong điều trị hen suyễn, trị viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, lao phổi, âm hư ho khan


Tỳ Bà Diệp: Tỳ Bà là cây cho trái ngon, thuốc tốt, tên khoa học Eriobotrya japonica (Thunb.) Lindl., thuộc họ hoa Hồng Rosaceae được sử dụng hàng ngàn năm qua trong Đông Y. Tỳ Bà có tác dụng trừ đàm và giảm ho, dẫn khí nghịch xuống phần dưới và chống nôn.


Bạch Quả: Bạch quả chín ăn rất nhuận tràng, ích khí, bổ tim, ổn định hệ tuần hoàn và hệ thần kinh, kinh mạch dẫn truyền máu lên não, giúp phục hồi trí nhớ cho người cao tuổi. Khi thời tiết thay đổi, người suy phế quản chỉ cần ăn bạch quả 3 lần/ngày, 20-30gr 1 lần sẽ dứt ho khan, ho đàm, triệt vi khuẩn lao phổi.


Cát Cánh: Cát cánh mọc hoang và được trồng nhiều nơi ở Trung Quốc, chúng mang ý nghĩa của sự bền bỉ là do khả năng tồn tại bền vững. Củ to, dài chắc màu trắng ngà. Cát Cánh có tác dụng chữa ho, ho có đờm hôi tanh, viêm họng, khản tiếng, tức ngực, khó thở.


Cát Căn: còn gọi là sắn dây có tác dụng chống (UT,.) giải nhiệt mạnh. Cát Căn còn được ứng dụng lâm sàng trong điều trị huyết áp cao, rối loạn động mạch vành.


Cam Thảo: trong các bài thuốc Đông y, cam thảo được dùng rất phổ biến là nhờ tác dụng đa năng của vị thuốc này. Cam thảo tính vị ngọt, bình, chủ yếu dùng vào bổ tì, thanh nhiệt, giải độc, nhuận phế (bổ phổi) và là vị thuốc dược tính điều hòa.


Bạc Hà : Bạc hà được xem là loại thảo dược xưa nhất thế giới vì có những bằng chứng khảo cổ cho thấy nó đã được sử dụng làm thuốc khoảng 10.000 năm trước. Trong tinh dầu bạc hà có chứa chất menthol, từ đó người ta đã chế ra nhiều loại thuốc như: dầu cù là, dầu cao con hổ, kẹo ngậm ho bạc hà, rượu bạc hà, thuốc đánh răng bạc hà...


Hạnh Nhân: Hạnh nhân tức là hạt khô của quả của cây Mơ. Hạnh nhân có tác dụng chỉ khái bình suyễn, nhuận tràng thông tiện, chủ trị các chứng ho do phong hàn hoặc phong nhiệt, ho suyễn do phế nhiệt, táo bón do tràng táo.


Kha Tử: vỏ rât cứng, khi ngậm nước tiết ra có vị đắng, chát, hơi khó nuốt là đặc trưng của kha tử-một vị thuốc chữa ho, viêm họng, khản tiếng vô cùng hữu hiệu.


Thiên Môn: còn gọi là củ tóc tiên (Asparagus cochinchinensis M). Thiên môn đông có vị ngọt, đắng, tính đại hàn, vào hai kinh phế và thận. Có tác dụng dưỡng âm, nhuận táo, thanh nhiệt, hóa đờm. Dùng chữa phế ung hư lao, thổ huyết ho ra máu, tiêu khát, nhiệt bệnh tân dịch, hao tổn, tiện bí.
CHÀO MỪNG QUÝ ĐỘC GIẢ ĐÃ ĐẾN VỚI THUOCMOI.COM.VN
Website là nơi trao đổi ý kiến và phổ biến tin tức tài liệu y dược.
Những thông tin trên website chỉ mang tính chất tham khảo, Không tự ý áp dung.
BẠN CÓ SỨC KHỎE THÌ CÓ TỚI 1 000 ĐIỀU ƯỚC.
BẠN KHÔNG CÓ SỨC KHỎE THÌ CHỈ CÓ MỘT ĐIỀU ƯỚC DUY NHẤT LÀ SỨC KHỎE


Hân hạnh đồng hành cùng dược sĩ Thuốc mới !
Mọi thư từ ý kiến đóng góp xin gửi về Email : thuocmoi.com.vn@gmail.com

LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: Quý khách vui lòng gửi qua email: duongthelam@gmail.com

Chuyển sang sử dụng phiên bản cho mobile

Chịu trách nhiệm chính:
Dược sĩ: Nguyễn Văn Khanh
Cố vấn chương trình:
Bác sĩ: Nguyễn Thị Lan
Bác sĩ: Nguyễn Văn Dũng

Dược sĩ: Ngô Văn Đức

Dược sĩ: Đào Trường Linh