Bán trả góp, cho thuê

Thuốc ung thư

Thứ năm, 04/11/2010 - 06:18

NAVELBINE

HC:(VINORELBINE )
NAVELBINE 10mg/1ml giá :765 000 đ/lọ
NAVELBINE 20mg giá :1 361 000 đ/h 1 viên
NAVELBINE 30mg giá :2 042 000 đ/h 1 viên
NAVELBINE biote 50mg /5ml giá 4 000 000 đ/h /lọ
liên hệ DS THUOCMOI.COM.VN ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẪN
tài liệu tham khảo

Hóa trị ung thư vú ở Thái Lan

BS. Aumkhae Sookprasert

Bộ môn Ung - Khoa Y, Đại học Khon-kaen, Thái Lan

Tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú trên thế giới ngày càng tăng cao nhưng tỷ lệ tử vong do ung thư vú lại đang giảm đi nhờ vào việc áp dụng phương pháp trị liệu hệ thống có hiệu quả trên ung thư vú. Hiện nay, chúng ta không những có hóa trị và liệu pháp hormone mà còn có phương pháp trị liệu hiện đại bằng thuốc tác động trên đích phân tử như trastuzumab cho ung thư vú có đáp ứng với HER 2. Tuy nhiên do điều kiện còn hạn chế ở Thái Lan nên chúng tôi chỉ tập trung vào các thuốc hóa trị và liệu pháp hormone hiện có.

Mục tiêu của điều trị ung thư vú có thể chia làm 2 nhóm chính: điều trị hoàn toàn cho bệnh nhân ung thư vú giai đoạn đầu và điều trị kéo dài sự sống cho bệnh nhân ung thư đã di căn. Liệu pháp trị liệu hệ thống cho các bệnh nhân giai đoạn đầu được gọi là trị liệu hỗ trợ và thường được thực hiện sau khi hoàn thành trị liệu tại chỗ như phẫu thuật, liệu pháp hóa trị tạm thời được chỉ định trong trường hợp bệnh di căn.

Tổng quan về hóa trị ung thư vú

Ung thư vú là dạng ung thư có đáp ứng cao với hóa trị, vì thế rất nhiều thuốc hóa trị có thể sử dụng. Tuy nhiên có 2 nhóm thuốc chính được xem là 2 nhóm tốt nhất, đó là nhóm anthracycline như Doxorubicine và Epirubicin và nhóm thứ 2 là nhóm taxane như Paclitaxel và Docetaxel. Các thuốc hóa trị khác cũng thường hay được sử dụng như 5-FU, Cyclophosphamide, Methotrexate. Một số các thuốc mới như Gemcitabine, Vinorelbine và dạng uống của 5-FU như Capctitabine. Phác đồ trước đây thường được sử dụng như CMF – Cyclophosphamide + Methotrexate (iv) + 5-FU hiện nay không còn được ưa chuộng và được thay thế bằng các phác đồ mới như FAC hay FEC, trong đó Doxorubicin được đưa vào phác đồ để thay thế Methotrexate. Ngày nay, các phác đồ chứa nhóm anthracylin được chứng minh có hiệu quả tốt hơn phác đồ cũ CMF trên cả 2 mặt: tỷ lệ sống khỏi bệnh và tỷ lệ sống tổng thể nhưng có độc tính cao hơn trên huyết học. Các thuốc hóa trị mới như Paclitaxel và Docetaxel có thể được sử dụng đơn trị do chúng có hiệu quả cao nhưng cũng có thể được sử dụng phối hợp với các thuốc khác để tăng tác động song cần phải lưu ý đến sự gia tăng tác dụng phụ.

Độc tính tích tụ trên các cơ quan thiết yếu cũng là một vấn đề cần quan tâm. Chẳng hạn như các thuốc nhóm anthracycline gây độc tính tích tụ trên tim. Nếu trước đây đã sử dụng Doxorubicin thì liều lượng sử dụng sau này phải nhỏ hơn 550 mg/m2 để phòng ngừa bệnh lý cơ tim không hồi phục, và đối với Epirubicin thì liều sử dụng phải nhỏ hơn 1100 mg/m2.

Thời gian hóa trị cũng khác nhau giữa hóa trị hỗ trợ và hóa trị tạm thời. Trong trường hợp hóa trị hỗ trợ thì phác đồ và thời gian trị liệu được xác định trước. Trong hóa trị tạm thời, bác sĩ cần đánh giá lại hiệu quả sau 2-3 đợt trị liệu và có thể quyết định tiếp tục hay thay đổi phác đồ tùy theo đáp ứng của bệnh nhân, vì thế thời gian trị liệu không giống nhau cho mỗi bệnh nhân.

Hóa trị hỗ trợ

Hóa trị hỗ trợ  do bác sĩ điều trị đưa ra cho bệnh nhân sau khi bệnh nhân được phẫu thuật. Mục tiêu của hóa trị hỗ trợ là ngừa tái phát và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân ung thư vú. Rõ ràng, đa hóa trị làm tăng thời gian sống khỏi bệnh và thời gian sống tổng thể cho hầu hết các bệnh nhân, ngoại trừ các bệnh nhân có nguy cơ tái phát rất thấp. Tuy nhiên trong kỷ nguyên hiện đại với phương pháp trị liệu có định hướng thì phần lớn hóa trị hỗ trợ trong ung thư vú cần được định hướng bằng các chất định hướng thích hợp để thuốc có thể thâm nhập vào mô ung thư. Hai mục tiêu định hướng quan trọng nhất là HR (các receptor hormone như ER và PgR) và HER 2 protein. Vì thế các báo cáo về giải phẫu bệnh chính xác và sự đánh giá chính xác các mục tiêu là hết sức quan trọng.

Bước đầu tiên trong thiết kế một hóa trị hỗ trợ cho ung thư vú giai đoạn đầu là phải xác định được tình trạng đáp ứng với hormone (bảng 1)

Bảng 1: Đáp ứng của bướu với hormone: định nghĩa

Đáp ứng nội tiết cao

Đáp ứng nội tiết 1 phần

Không đáp ứng với nội tiết

- Đáp ứng cho cả ER và PgR (mức độ cao)

- Chỉ ER hay PgR có đáp ứng hoặc

- Cả ER và PgR cho đáp ứng nhưng ở mức thấp

- Cả ER và PgR đều không có đáp ứng.

Bước 2: các yếu tố nguy cơ của bệnh nhân theo định nghĩa (theo hướng dẫn trong bảng 2)

Bảng 2: Các yếu tố nguy cơ

Nguy cơ

Định nghĩa

Thấp

Không có bướu và phải đạt tất cả các tiêu chuẩn sau.

1. pT </= 2 cm, và

2. Mô thuộc độ I, và

3. Không có sự xâm lấn mạch rộng quanh bướu, và

4. Có biểu hiện các receptor ER và/hoặc PgR, và

5. Không có sự biểu hiện và sự khuếch đại HER 2 gene, và

6. Tuổi > 35

Trung bình

1. Không có bướu nhưng có tối thiểu 1 trong các yếu tố sau:

1.1. pT>2 cm, hay

1.2. Mô thuộc độ 2 hay 3, hay

1.3. Có sự hiện diện xâm lấn mạch rộng quanh bướu, hay

1.4. Không có ER và PgR, hay

1.5. HER 2 gene được biểu hiện hay khuếch đại, hay

1.6 Tuổi < 35

2. Có 1-3 bướu với 1 trong các yếu tố sau:

2.1. ER và/hay PgH được biểu hiện, hay

2.2. HER 2 gene không được biểu hiện và khuếch đại

Cao

1. Có 1-3 bướu với 1 trong những yếu tố sau:

1.2. Không có ER và PgR hay

1.3. HER 2 gene có biểu hiện hay khuếch đại

2. Có ít nhất 4 bướu

Bước 3: Chọn lựa trị liệu theo hướng dẫn trong bảng 3 và bảng 4

Bảng 3: Chọn lựa trị liệu tổng thể

 

Đáp ứng nội tiết cao

Đáp ứng nội tiết phần 1

Không có đáp ứng nội tiết

HER 2

Không đáp ứng

 

ET

(cân nhắc phối hợp thêm CT tùy theo mức độ nguy cơ)

ET

(cân nhắc phối hợp thêm CT tùy theo mức độ nguy cơ)

CT

HER 2

Có đáp ứng

ET + Trastuzumab + CT

ET + Trastuzumab + CT

Trastuzumab + CT

ET = Trị liệu chỉ bằng hormon, ET + Trastuzumab = Liệu pháp hormon + anti HER 2 monoclonal antibody (trastuzumab), CT = hóa trị.

Bảng 4: Phương thức trị liệu hỗ trợ định nghĩa theo nguy cơ và đáp ứng hormon

Tình trạng HER 2

HER 2 không đáp ứng

Tình trạng đáp ứng hormon

Đáp ứng nội tiết cao

Đáp ứng nội tiết 1 phần

Không có đáp ứng nội tiết

Nguy cơ thấp

ET

ET

Không áp dụng

Nguy cơ trung bình

ET* hay CT+ET

CT + ET

CT + ET

Nguy cơ cao

CT + ET

CT + ET

CT + ET

* Trong nhóm nguy cơ trung bình có bướu đáp ứng với hormone cao, liệu pháp hormone đơn trị là lựa chọn hợp lý.

Tình trạng HER 2

HER 2 không đáp ứng

Tình trạng đáp ứng hormon

Đáp ứng nội tiết cao

Đáp ứng nội tiết 1 phần

Không có đáp ứng nội tiết

Nguy cơ thấp

Không áp dụng

Không áp dụng

Không áp dụng

Nguy cơ trung bình

CT + Trastuzumab + ET

CT + Trastuzumab + ET

CT + Trastuzumab

Nguy cơ cao

CT + Trastuzumab + ET

CT + Trastuzumab + ET

CT + Trastuzumab

Về hóa trị hỗ trợ trong ung thư vú, có ít nhất 3 thế hệ phác đồ được phân loại theo hiệu quả. Thế hệ đầu tiên và sau cùng sử dụng 6 đợt trị liệu bằng CMF, phác đồ này có hiệu quả tương đương với 4 đợt điều trị bằng phác đồ AC trong hóa trị hỗ trợ. Thế hệ 2 gồm có 3 thuốc phối hợp có chứa nhóm anthracycline trong phác đồ. Một ví dụ về phác đồ hóa trị thế hệ 2 là 6 đợt FAC hay 6 đợt FEC. Phác đồ hóa trị thế hệ 3 chứa taxane như paclitaxel hay docetaxel và bao gồm 6 đợt TAC (docetaxel, adriamycin và cyclophosphamide), hoặc 4 đợt AC, tiếp theo bằng 4 đợt docetaxel (mỗi đợt cách nhau 3 tuần), hoặc 12 tuần paclitaxel. Phác đồ gần đây nhất của thế hệ 3 là 3 đợt FEC tiếp theo bằng 3 đợt docetaxel (mỗi đợt cách nhau 3 tuần). Nhìn chung, chúng tôi chọn phác đồ thế hệ 1 cho bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ trung bình có bướu đáp ứng cao với hormone hay đáp ứng 1 phần với hormone, chọn thế hệ 2 cho bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ trung bình và không có đáp ứng với hormone hoặc bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao và có đáp ứng cao với hormone, chọn phác đồ thế hệ 3 cho bệnh nhân có đáp ứng 1 phần với hormone và không đáp ứng với hormone nhưng có nguy cơ tái phát cao.

Hóa trị tạm thời

Ở các bệnh nhân ung thư vú di căn, chúng tôi phân bệnh nhân thành 2 nhóm tùy theo nguy cơ (bảng 5)

Bảng 5: Bệnh nhân di căn theo nguy cơ

Yếu tố

Bệnh nhân nguy cơ thấp

Bệnh nhân nguy cơ cao

Tình trạng receptor của hormon

Có đáp ứng với ER và/hay PgR

Không có đáp ứng với ER và/hay PgR

Tình trạng HER 2

Không đáp ứng

Có đáp ứng

Khoảng thời gian khỏi bệnh

Dài (> 2 năm)

Ngắn (thường < 2 năm)

Tình trạng bướu di căn

Có giới hạn

Lan tỏa

Cơ quan nội tạng liên quan

Không

Không

Vị trí di căn

Xương, mô mềm

Cơ quan nội tạng (phổi, gan)

Bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ thấp có cơ hội kéo dài thời gian sống hơn, và do phần lớn bướu có đáp ứng với hormone nên chúng tôi thường bắt đầu bằng trị liệu hormone trước. Việc chọn lựa trị liệu hormone tùy thuộc vào tình trạng mãn kinh của bệnh nhân. Tamoxifen là trị liệu nội tiết chuẩn cho giai đoạn tiền mãn kinh, thuốc ức chế aromatase có thể trở thành thuốc chuẩn mới được chọn lựa đầu tiên trong điều trị nội tiết cho bệnh nhân hậu mãn kinh do hiệu quả cao trên việc kéo dài thời gian ngưng tiến triển và tỷ lệ sống. Tuy vậy, Tamoxifen vẫn là chọn lựa tốt và dễ chấp nhận cho nhóm bệnh nhân này.

Bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao cần được bắt đầu bằng hóa trị liệu để đạt đáp ứng nhanh và tốt. Việc chọn lựa hóa trị tùy thuộc vào tiền sử sử dụng hóa trị hỗ trợ của bệnh nhân, do sự tích tụ độc tính gây hạn chế liều lượng sử dụng của các anthracycline. Ở bệnh nhân đã được chỉ định anthracycline trước đây thì lần hóa trị tiếp theo phải sử dụng nhóm taxane. Có 2 chiến lược hóa trị cho bệnh nhân di căn. Chiến lược đầu tiên là chiến lược “đơn trị liệu tiếp nối” bắt đầu bằng 1 thuốc và chuyển sang thuốc khác khi bệnh nhân không đáp ứng với thuốc đầu. Chiến lược thứ 2 là chiến lược “điều trị phối hợp” bắt đầu bằng ít nhất là 2 thuốc và thay thế thuốc nếu không có đáp ứng. Ở bệnh nhân chưa sử dụng anthracycline, chúng tôi khuyến cáo bắt đầu bằng anthracycline đơn trị như Adriamycin 60 – 75mg/m2 mổi 3 tuần, hoặc phối hợp với 5-FU và Cyclophosphamide (FAC hay AC) sẽ có hiệu quả tương tự nhau nhưng rẻ hơn so với sử dụng nhóm taxane. Ở bệnh nhân đã sử dụng anthracycline trước đây, chọn lựa hóa trị kế tiếp là taxane như Paclitaxel hay Docetaxel. Việc chọn lựa chiến lược trị liệu cần dựa trên từng cá thể. Bệnh nhân có bướu xâm lấn nên được bắt đầu bằng hóa trị phối hợp trong khi bệnh nhân có dạng bệnh không hoạt động thì có thể sử dụng chiến lược “đơn hóa trị tiếp nối”.

Kết luận

Hóa trị liệu ung thư vú vẫn được xem là một phần quan trọng trong hóa trị hỗ trợ và hóa trị di căn, ngay cả trong kỷ nguyên sử dụng phương pháp điều trị theo mục tiêu. Có rất nhiều thuốc có tác động và trách nhiệm của bác sĩ là phải chọn “đúng thuốc, đúng thời điểm”. Chúng ta cần luôn luôn cập nhật kiến thức về điều trị ung thư vú để có thể điều trị cho bệnh nhân theo cách tốt nhất theo năng lực hiện có. Cuối cùng, ung thư vú là dạng ung thư để có đáp ứng với hóa trị liệu, ngay cả đối với các loại thuốc chúng ta xem là cũ cũng có thể có hiệu quả tốt vì thế nên điều trị cho bệnh nhân thay vì không làm bất cứ điều gì.

Trích Hội nghị Phòng chống Ung thư Phụ khoa lần 2 năm 2007

 
Ý kiến của bạn
Tắt Telex Vni
captcha ChangeImage

Các tin mới

Các tin đã đăng

CHÀO MỪNG QUÝ ĐỘC GIẢ ĐÃ ĐẾN VỚI THUOCMOI.COM.VN
Website là nơi trao đổi ý kiến và phổ biến tin tức tài liệu y dược.
Những thông tin trên website chỉ mang tính chất tham khảo, Không tự ý áp dung.
BẠN CÓ SỨC KHỎE THÌ CÓ TỚI 1 000 ĐIỀU ƯỚC.
BẠN KHÔNG CÓ SỨC KHỎE THÌ CHỈ CÓ MỘT ĐIỀU ƯỚC DUY NHẤT LÀ SỨC KHỎE


Hân hạnh đồng hành cùng dược sĩ Thuốc mới !
Mọi thư từ ý kiến đóng góp xin gửi về Email : thuocmoi.com.vn@gmail.com

LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: Quý khách vui lòng gửi qua email: duongthelam@gmail.com

Chuyển sang sử dụng phiên bản cho mobile

Chịu trách nhiệm chính:
Dược sĩ: Nguyễn Văn Khanh
Cố vấn chương trình:
Bác sĩ: Nguyễn Thị Lan
Bác sĩ: Nguyễn Văn Dũng

Dược sĩ: Ngô Văn Đức

Dược sĩ: Đào Trường Linh