Bán trả góp, cho thuê

Thuốc phụ khoa

Thứ tư, 04/08/2010 - 06:48

Climen

hoạt chất : Estradiol valerate       2mg

cyproteron acetaten     1mg

Nhóm thuốc và phân loại:

 

Có một vài dạng estrogen tự nhiên. ở nữ giới trong thời kỳ còn kinh nguyệt, hằng ngày, trứng sản sinh ra 50-70 microgam estradiol. Chất này biến đổi thành estrone và estriol. Sau mãn kinh, estrone là estrogen có tác dụng nhiều nhất (sau mãn kinh estrone do tuyến thượng thận tiết ra). Estrogen giúp tǎng sinh trưởng và phát triển các cơ quan sinh dục nữ và duy trì giới tính. Estrogen làm tǎng tiết dịch ra khỏi tử cung và tǎng sinh nội mạc tử cung. Estrogen làm giảm LDL-cholesterol (cholesterol xấu) và làm tǎng Hdl-cholesterol (cholesterol tốt) trong máu. Estrogen dùng một mình hoặc phối hợp với progestin làm giảm 25% nguy cơ gãy xương chậu do loãng xương và giảm 50% nguy cơ cáccơn đau tim và đột quị.

Có một vài dạng estrogen tự nhiên. ở nữ giới trong thời kỳ còn kinh nguyệt, hằng ngày, trứng sản sinh ra 50-70 microgam estradiol. Chất này biến đổi thành estrone và estriol. Sau mãn kinh, estrone là estrogen có tác dụng nhiều nhất (sau mãn kinh estrone do tuyến thượng thận tiết ra). Estrogen giúp tǎng sinh trưởng và phát triển các cơ quan sinh dục nữ và duy trì giới tính. Estrogen làm tǎng tiết dịch ra khỏi tử cung và tǎng sinh nội mạc tử cung. Estrogen làm giảm LDL-cholesterol (cholesterol xấu) và làm tǎng Hdl-cholesterol (cholesterol tốt) trong máu. Estrogen dùng một mình hoặc phối hợp với progestin làm giảm 25% nguy cơ gãy xương chậu do loãng xương và giảm 50% nguy cơ cáccơn đau tim và đột quị.
Dạng dùng: Viên nén dạng tinh thể: 0,5mg; 1mg; 2mg. Kem bôi âm đạo: 0,01%. Cao dán do giải phóng liên tục: 0,05mg/ngày, 0,lmg/ngày.

Viên nén dạng tinh thể: 0,5mg; 1mg; 2mg. Kem bôi âm đạo: 0,01%. Cao dán do giải phóng liên tục: 0,05mg/ngày, 0,lmg/ngày.
Bảo quản: ở nhiệt độ thường 15-30? C

ở nhiệt độ thường 15-30? C
Chỉ định: Estradiol điều trị các triệu chứng mãn kinh (cơn bốc hỏa, khô âm đạo), phòng gãy xương do loãng xương, giảm nguy cơ cơn đau tim và đột quị, loạn kinh nguyệt. Kem bôi âm đạo dùng điều trị teo âm đạo và tử cung do mãn kinh.

Estradiol điều trị các triệu chứng mãn kinh (cơn bốc hỏa, khô âm đạo), phòng gãy xương do loãng xương, giảm nguy cơ cơn đau tim và đột quị, loạn kinh nguyệt. Kem bôi âm đạo dùng điều trị teo âm đạo và tử cung do mãn kinh.
Liều dùng: Viên nén thường dùng ngày 1 lần, ở một số bệnh nhân, lộ trình tuần hoàn dùng thuốc: dùng 23 ngày liên tiếp, sau đó nghỉ 5 ngày.

Viên nén thường dùng ngày 1 lần, ở một số bệnh nhân, lộ trình tuần hoàn dùng thuốc: dùng 23 ngày liên tiếp, sau đó nghỉ 5 ngày.
Cao dán dùng cho phần thân thể sạch, khô, không có lông, tóc nhưng không dùng ở vú, cũng không được dán vào chỗ da bị tổn thương hoặc bị kích ứng. Nơi dán cao nên được thay luân phiên, tối thiểu 1 tuần giữa các đợt dùng nhắc lại cho nơi bất kỳ. Cao cần dán ngay sau khi bóc lớp bảo vệ. Di mạnh sau khi dán trong khoảng 10 giây.

Tương tác thuốc: Xem Estrified estrogen

Xem Estrified estrogen
Estrogen ức chế chuyển hóa của cyclosporine, làm tǎng nồng độ cyclosporine trong máu gây ra hủy hoại gan hoặc/và thận. Nếu phải dùng phối họp cần phải điều chỉnh liều cyclosporine. Estrogen làm tǎng nguy cơ mắc bệnh gan ở bệnh nhân dùng dantroline, nguy cơ đặc biệt ở phụ nữ trên 35 tuổi và những người có tiền sử bệnh gan. Estrogen làm tǎng khả nǎng của gan tiết ra các chất giúp cho quá trình đông máu. Vì vậy liều của narfarin có thể phải điều chỉnh khi dùng phối hợp với Estrogen nếu máu đông quá dễ dàng.

Tác dụng phụ của Estrogen bị giảm khi dùng đồng thời với rifanpicin, bacbiturate, carbamazepine, griseofulvin, phenytoin và primidone do các thuốc này làm tǎng chuyển hóa của Estrogen ở gan.

Đối với phụ nữ mang thai: Không dùng Estrogen cho phụ nữ có mang vì làm tǎng nguy cơ bất thường cho thai nhi.

Không dùng Estrogen cho phụ nữ có mang vì làm tǎng nguy cơ bất thường cho thai nhi.
Đối với phụ nữ cho con bú: Estrogen tǎng bài tiết vào sữa mẹ gây ra các tác dụng khó tiên lượng cho trẻ bú sữa mẹ. Vì vậy không dùng Estrogen cho phụ nữ trong thời kỳ cho con bú.

Estrogen tǎng bài tiết vào sữa mẹ gây ra các tác dụng khó tiên lượng cho trẻ bú sữa mẹ. Vì vậy không dùng Estrogen cho phụ nữ trong thời kỳ cho con bú.
Tác dụng phụ: Tác dụng lên nội tiết hay gặp nhất là thay đối máu chảy, máu đông, mất kinh nguyệt hoặc kinh nguyệt kéo dài quá mức, đau ngực, to ngực, thay đổi tình dục (tǎng hoặc giảm). Estrogen có thể gây sỏi túi mật, viêm gan, đau nửa đầu, phù chân, da đồi mồi có thể xảy ra ở trán, gò má hoặc thái dương. Các tác dụng này kéo dài cho đến khi ngừng dùng thuốc. Estrogen có thể gây tǎng độ cong của giác mạc vì vậy bệnh nhân dùng kính mắt có thể khó chịu với kính của họ.

Tác dụng lên nội tiết hay gặp nhất là thay đối máu chảy, máu đông, mất kinh nguyệt hoặc kinh nguyệt kéo dài quá mức, đau ngực, to ngực, thay đổi tình dục (tǎng hoặc giảm). Estrogen có thể gây sỏi túi mật, viêm gan, đau nửa đầu, phù chân, da đồi mồi có thể xảy ra ở trán, gò má hoặc thái dương. Các tác dụng này kéo dài cho đến khi ngừng dùng thuốc. Estrogen có thể gây tǎng độ cong của giác mạc vì vậy bệnh nhân dùng kính mắt có thể khó chịu với kính của họ.
Đông máu thường là tác dụng nguy hiểm và có liên quan đến liều dùng. thường xảy ra hơn khi liều dùng cao hơn. Người hút thuốc lá có nguy cơ cao hơn người không hút, vì vậy bệnh nhân nên bỏ thuốc lá.

Estrogen có thể làm tǎng sinh nội mạc tử cung vì vậy tǎng nguy cơ (UT,.) nội mạc tử cung, (UT,.)nội mạc tử cung ở những người dùng Estrogen thường ở giai đoạn sớm hơn và mức độ ác tính ít hơn so với người không hút thuốc lá vì vậy tỷ lệ cứu sống cao hơn. Liệu pháp phối hợp progestin và estrogen ngǎn cản (UT,.) nội mạc tử cung.

Các số liệu hiện có liên quan giữa liệu pháp estrogen và (UT,.)vú đang còn bàn cãi. Có thể có tǎng nhẹ nguy cơ (UT,.) vú. Điều đó không rõ ràng vì nếu phối hợp progestin với estrogen lại giảm nguy cơ (UT,.) vú.

Các thuốc làm “chết”  tế  bào (UT,.) cổ điển

Nhóm  tác động đến AND (ức chế tổng hợp AND), gồm nhiều phân nhóm:

- Ankyl hóa: Dùng trong (UT,.)dạ dày, đại tràng, tụy, vú gồm có: ametycin, caryolysine, endoxan, estracyt, holoxan…

- Nitroso-ure (belustine, bicnu, deticene, hexastat,  muphoran, zanosar): Hòa tan trong lipid, qua được hàng rào máu – não dùng điều trị các u não nguyên phát, thứ phát, u ở da, ở tủy, u lympho, u hắc tố.

- Các platin (cisplatin, carboplatin, oxaliplatin): Dùng trong (UT,.)tinh hoàn, buồng trứng, cổ và màng trong tử cung, rau thai; u tiền liệt, bàng quang, vòm mũi họng, phổi, xương, mô mềm, dạ dày, tuyến giáp.

Nhóm kháng chất chuyển hóa (ức chế tổng hợp acid nucleic), gồm các phân nhóm:

- Kháng acid  folic (methotrexat): Dùng trong (UT,.) tuyến vú, buồng trứng, trị liệu bệnh bạch cầu cấp tính nguyên bào lympho (ở trẻ em), (UT,.) tế bào lympho ác tính (không phải Hodgkin), sarcoma xương.

- Kháng puric và pirimidic (fluorouracyl, florafur, cytarabin), dùng trong (UT,.)dạ dày, tụy, ruột kết, buồng trứng, bàng quang, da (bôi tại chỗ).

Nhóm ức chế tosoisomerase: Do ức chế tosoisomerase nên ức chế tổng hợp ADN bao gồm:

- Kháng sinh dòng anthracyclin (adriblatina, cerubidin, doxorubicin, farmorubicin, theprubicin, zavedos), dùng trong carcinom vú, sarcom xương và các phầm mềm, u lympho, u đặc trẻ em, (UT,.)ư phổi, bàng quang, dạ dày, buồng trứng.

- Epidophyloltoxin (etoposide, vehem, sandoz,vepeside) dùng trong (UT,.) tinh hoàn,(UT,.) phổi.

Các thuốc làm “chết” tế bào(UT,.) “nhắm tới phân tử đích”

Cuối thế kỷ 20, các nhà khoa học biết được một số “phân tử đặc hiệu” quyết định sự dẫn truyền tín hiệu tăng trưởng, sinh mạch, điều hòa chu trình lập và chết theo lập trình  của tế bào (UT,.), coi các phân tử này như một cái “đích”. Tấn công vào “đích” này thì sẽ  ngăn chặn hay loại trừ được(UT,.). Gồm các phân nhóm: thuốc khóa thụ thể HER2, thuốc làm ngừng chu trình tế bào, thuốc ức chế telomezaz, thuốc là các oncogen…

Các thuốc kìm sự phát triển lan tỏa
(UT,.)

Nhóm ức chế sinh mạch: Khối u tự hình thành ra mạch máu chuyên chở các chất nuôi dưỡng đến gọi là sinh mạch. Thuốc ức chế sinh mạch làm cho khối u bị “bỏ đói” không phát triển được, gồm có: angiostatin, endostatin, avastatin.

Nhóm kháng di căn: Các tế bào (UT,.) tràn vào máu di căn ra các vùng. Dùng các enzym ngăn chặn bằng cách bịt các lỗ ở thành mao mạch sẽ chống được di căn.

Các thuốc kìm sự phát triền (UT,.) theo “liệu pháp hormon”

Một số hormon  khi tăng cao sẽ làm phát triển (UT,.). Dùng các chất chống lại sự tăng hormon đó gọi là “liệu pháp hormon trị (UT,.)”. Ví dụ: estrogen gắn vào các thụ thể estrogen (ER+). Các thụ thể này nhận biết, chuyển tín hiệu tăng trưởng DNA đến các vùng khác, làm cho (UT,.) vú phát triển.Trường hợp này gọi là (UT,.) vú lệ thuộc vào thụ thể  estrogen (ER+). Dùng một thuốc kháng estrogen làm giảm tiết estrogen hoặc không cho tác động lên (ER+) thì hạn chế sự phát triển tế bào (UT,.) vú. Có các phân nhóm: kháng estrogen (tamoxifen, raloxifen, fulvestran), làm giảm sản xuất estrogen, các chất tương tự LH, RH (là dạng “giả”, gắn vào thụ thể ở  tuyến yên, chiếm chỗ, không cho LH, RH “thật” hoạt động làm sụt giảm estrogen), progestin (được chọn dùng trong (UT,.)vú ở giai đoạn tiến xa (bước 2 hay 3 sau khi dùng hai nhóm thuốc trên không đáp ứng).

Tương tự như thế có một số thuốc dùng trong (UT,.)tuyến tiền liệt như: thuốc đồng vận với LH, RH như leuprolin, buserelin, goserelin; thuốc kháng androgen như cyproteron, flutamid, bicallutamid, nilutamid.

Các thuốc biến đổi đáp ứng miễn dịch

Các thuốc này thúc đẩy sự trưởng thành của tế bào T từ các lypmho bào ở máu ngoại vi, làm tăng interferon (alpha, gama), inteulekin-2 và 3 tăng số thụ thể lymphokin trên tế bào T dùng trong (UT,.) biểu mô tế bào gan nguyên phát, (UT,.) phổi không phải tế bào nhỏ, u tế bào hắc tố.

Độc tính của thuốc (UT,.) và cách hạn chế:

Với loại thuốc cổ điển:

Thuốc cổ điển tấn công vào tế bào(UT,.) đồng thời tấn công vào tế bào lành, gây độc. Mặt khác, chúng gây viêm màng nhày, tiêu chảy, nôn mửa làm cho người bệnh khổ sở, nhất là trong những ngày đầu dùng thuốc. Mỗi thuốc có tính độc riêng cần có cách dùng, theo dõi  thích hợp để giảm độc.

Để giảm độc, chỉ dùng thuốc với liều mà thể trạng có thể chịu đựng được. Nếu thể trạng suy yếu lại dùng liều mạnh có khi không chết vì (UT,.) mà chết vì độc tính của thuốc. Xen kẽ đợt dùng và nghỉ thuốc thích hợp. Dùng thuốc để củng cố hiệu lực. Nghỉ thuốc để phục hồi sức khỏe, tránh thuốc tích liều, gây độc. Làm đủ và đúng định kỳ các xét nghiệm. Khi chỉ số các xét nghiệm vượt giới hạn thầy thuốc có thể điều chỉnh (liều lượng hay đổi thuốc).

Hầu hết thuốc gây độc cho thai, không dùng cho người có thai, cho con bú. Một số thuốc gây quái thai, cần có biện pháp tránh thai khi dùng thuốc. Nâng cao thể trạng của người bệnh bằng chế độ ăn uống thích hợp.

Với các thuốc mới

Những thuốc mới thường đi đến phân tử đích hay các cơ quan nhất định, có tính đặc hiệu, ít độc hơn loại cổ điển. Nhưng cũng không phải vô hại. Ví dụ:

- Trong liệu pháp nội tiết, chỉ dùng hỗ trợ trong điều trị (UT,.) vú có lệ thuộc vào (ER+) ở giai đoạn sớm hay cho người mãn kinh ở giai đoạn tiến xa nhưng chưa đe dọa tính mạng. Dùng không đúng chỉ định hay quá liều sẽ bị các hội chứng giống như hội chứng giảm estrogen trong thời kỳ mãn kinh.

- Trong liệu pháp nhằm trúng đích phân tử: Chỉ dùng herceptin khóa HER2 khi xác định người đó thuộc diện sản xuất thái quá HER2. Có thể bị một số phản ứng khi truyền lần đầu, những lần sau ít gặp, các phản ứng thường nhẹ, có thể xử lý được. Herceptin không gây ra rụng tóc, ức chế tủy xương, lở miệng như hóa trị liệu. Nếu dùng với nhóm anthracyclin có thể gây nguy cơ rối loạn chức năng tim.

Cần dùng các thuốc mới đúng chỉ định, đúng liều để tránh sự rối loạn do dùng sai hay thái quá.

Tác giả: DS. Hà Thủy Phước
Sức khỏe & Đời sống

 

Ý kiến của bạn
Tắt Telex Vni
captcha ChangeImage

Các tin mới

Các tin đã đăng

CHÀO MỪNG QUÝ ĐỘC GIẢ ĐÃ ĐẾN VỚI THUOCMOI.COM.VN
Website là nơi trao đổi ý kiến và phổ biến tin tức tài liệu y dược.
Những thông tin trên website chỉ mang tính chất tham khảo, Không tự ý áp dung.
BẠN CÓ SỨC KHỎE THÌ CÓ TỚI 1 000 ĐIỀU ƯỚC.
BẠN KHÔNG CÓ SỨC KHỎE THÌ CHỈ CÓ MỘT ĐIỀU ƯỚC DUY NHẤT LÀ SỨC KHỎE


Hân hạnh đồng hành cùng dược sĩ Thuốc mới !
Mọi thư từ ý kiến đóng góp xin gửi về Email : thuocmoi.com.vn@gmail.com

LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: Quý khách vui lòng gửi qua email: duongthelam@gmail.com

Chuyển sang sử dụng phiên bản cho mobile

Chịu trách nhiệm chính:
Dược sĩ: Nguyễn Văn Khanh
Cố vấn chương trình:
Bác sĩ: Nguyễn Thị Lan
Bác sĩ: Nguyễn Văn Dũng

Dược sĩ: Ngô Văn Đức

Dược sĩ: Đào Trường Linh